“Triết lý” cây tre
Song luyện binh khí
TTCN - Trong văn chương bình dân, cây tre là hình ảnh thân thương bất khả phân ly, gợi lên bổn phận và trách nhiệm gánh vác gia đình, non nước của người làm trai.
Ba đời bảy họ nhà tre
Hễ cất lấy gánh, nó đè lên vai
Hoặc để nói lên lòng thương con vô bờ bến của tình mẫu tử thiêng liêng:
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời
Theo quan niệm của người phương Đông, tre, trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử. Cứng mà mềm mại, đổ mà không gãy, lòng rỗng không, biểu trưng cho tinh thần và khí độ an nhiên tự tại, không mê đắm quyền lợi, vật chất. Tre, trúc biểu lộ tính cách của dân tộc Việt, một dân tộc có tiết tháo, phẩm hạnh và kiêu hùng, ngoan cường nhưng hiếu hòa, độ lượng.
Ngay từ thời dựng nước, cây tre đầu làng vốn gần gũi, thân quen, thoáng chốc trở thành vũ khí lợi hại có đủ tính cương nhu, giúp cậu bé làng Gióng đánh tan giặc Ân, sau khi chém gãy cả thanh gươm sắt.
Dân tộc ta đã biết sử dụng tre làm công cụ giữ nước, với các vũ khí lợi hại như cung, nỏ, bàn chông, tầm vông vạt nhọn… Và những tiếng nổ kinh hồn của hàng loạt pháo tre đã làm quân thù bạt vía trên chiến trường, hay góp vui trong ngày hội liên hoan thắng trận.
Không như hầu hết các loại cây chỉ đứng riêng lẻ một mình, tre luôn mọc thành bụi, có gốc liền gốc, rễ đan rễ, thể hiện tính quần tụ, kết đoàn, tạo thành sức mạnh khó lay chuyển. Câu chuyện một người bẻ dễ dàng từng chiếc đũa tre, song không thể bẻ gãy cả bó được minh chứng.
Thân tre thẳng và cao mà không bị đổ là do thớ tre dẻo và thân tre mềm dễ lượn theo chiều gió. Với đặc tính phối hợp cương nhu để đón gió, thuận theo gió vừa đủ rồi ngạo nghễ vươn lên trở lại hình dáng cũ - một đặc tính độc đáo chỉ có ở cây tre. Dưới những trận cuồng phong, tre chỉ chịu tróc gốc cả bụi chứ không bao giờ chịu gãy ngang thân…
Tính chất nổi bật nhất trong cây tre tương ứng với kỹ thuật võ học là càng bị uốn cong và kéo sát bao nhiêu thì sức bật lại càng mãnh liệt, dữ dội bấy nhiêu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần cương nhu phối triển trong nghệ thuật giữ nước của dân tộc Việt. Gặp đối thủ cường bạo, hung hiểm, tạm thời ông cha ta thường lánh đi (nhu) để tránh nhuệ khí ban đầu. Sau đó chờ cho địch lơi lỏng, chểnh mảng việc quân cơ, ta mới tập trung đánh những trận quyết định (cương) hầu giành thắng lợi sau cùng.
Trước những trận đánh quyết định để đảm bảo thắng lợi, chúng ta cần lùi lại để tạo đà thật vững chắc. Lịch sử giữ nước của bao nhiêu triều đại VN đã chứng minh cụ thể điều đó. Với biểu tượng cây tre, dân tộc ta đã nâng việc giữ gìn và bảo vệ đất nước lên hàng nghệ thuật với biết bao kinh nghiệm vô cùng sống động và phong phú.
Tóm lại, cây tre biểu tượng cho một nhân cách, một hoài bão cao thượng. Quần thể tre cho thấy một xã hội thuận hòa kỷ cương “tre già măng mọc”, chứ không phải tranh sống theo kiểu “cây lớn đè cây nhỏ” giành lấy ánh sáng mặt trời.
Bắt nguồn từ các quan điểm trên, các bậc thầy Vovinam Việt Võ Đạo quan sát cây tre ở nhiều góc độ, tư duy về lẽ sinh tồn, thành bại để đúc kết xây dựng một lý luận về vận động võ học, một quan niệm nhân sinh. Từ đó xây dựng một con người võ đạo biết sống yêu thương gần gũi, hòa nhập với cộng đồng để mưu cầu hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Cho dù gặp sự ngang trái, mâu thuẫn, hoặc lâm vào cảnh bế tắc, con người võ đạo vẫn biết “vật cùng tắc biến”, hóa giải các mâu thuẫn bằng nguyên lý cương nhu phối triển. Cho nên có thể nói cây tre là bài học đầu tiên để nắm các yếu lý của võ thuật.
Với các phẩm tính có một không hai, cây tre chứa đựng những hình ảnh sinh động bao gồm đầy đủ tính âm dương, cương nhu và luôn hữu dụng cho con người. Hào hùng, khoáng đạt song cũng hết sức khiêm cung, bình dị và đầy lòng yêu thương… cũng là nét văn hóa đậm tính cách dân tộc mà cây tre là một biểu tượng điển hình của tinh thần nhân hòa và nguyên lý cương nhu phối triển.
Trong nho giáo cây tre là tượng trưng cho tinh thần người quân tử. Trên các bức tranh xưa cây tre thường đi liền với bốn chữ “Thanh Tâm Quân Tử”. Tâm của người “quân tử” trong sáng rỗng suốt như tâm của cây tre, không chứa đựng một vọng niệm ác ý nào.
“Bất biến tuỳ duyên, tuỳ duyên bất biến”, tâm của con người không thay đổi, nhưng để thực hiện bất cứ một việc gì cũng phải tuỳ theo thời cơ mà ứng biến. Tuy rằng phải ứng biến theo thời cơ, nhưng căn bản không hề thay đổi. Như cây tre uốn theo chiều gió để không đổ ngả, nhưng sau cơn bão táp, cây tre luôn luôn trở lại với tư thế và bản chất “thanh tâm quân tử” của mình. Con người ta cũng vậy. Nhân phẩm của mình không hề biến đổi, nhưng hành động phải thuận theo thời thế. Thuận theo thời thế, nắm bắt thời cơ, nhưng bản chất trong sáng không hề thay đổi.
Kinh Phật có câu “Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng”. Cái chơn tâm của Phật và chúng sanh luôn luôn trống rỗng, an tịnh, không chứa đựng một dục vọng phiền não nào.
Trong Lão Tử Dạo Đức Kinh có câu “Thường vô dục dĩ kiến kỳ diệu, thường hữu dục dĩ kiến kỳ kiếu”. Thường không tư dục mới nhận thức được chỗ huyền diệu, thường bị tư dục chi phối thì chỉ thấy cái chia lìa.
Một cuộc đời vì thiên hạ, không vì lợi riêng, nên tâm hồn luôn trong sáng; không báo thủ ý riêng nên mới nhận thức được cái hay cuả người khác; tiếp nhận cái hay của mọi người nên mới xây dựng được đoàn kết nhất trí; có đoàn kết nhất trí mới đưa đất nước đến thái bình, thịnh vượng, tự do, hạnh phúc.
(Chú ý : Ghi rõ nguồn khi lấy thông tin từ blog này)
